Chuyển đến nội dung chính

 ·  Tác giả: Nguyễn Phan Thục Chi  ·  Tham vấn bởi: Luật sư Nguyễn Văn Thành  ·  Pháp lý lao động khác  ·  23 phút đọc

Chế độ thai sản cho lao động nữ theo luật BHXH mới nhất

Phân tích chế độ thai sản cho lao động nữ theo quy định luật BHXH mới, điều kiện hưởng, thời gian nghỉ, mức hưởng, thủ tục thực hiện, các trường hợp đặc biệt.

Phân tích chế độ thai sản cho lao động nữ theo quy định luật BHXH mới, điều kiện hưởng, thời gian nghỉ, mức hưởng, thủ tục thực hiện, các trường hợp đặc biệt.

1. Khái niệm và bản chất pháp lý của chế độ thai sản

Trong hệ thống pháp luật về bảo hiểm xã hội của Việt Nam, chế độ thai sản được xác định là một trong những chế độ bảo hiểm xã hội cơ bản, mang tính chất bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ lao động nữ trong quá trình thực hiện chức năng sinh sản.

Về mặt pháp lý, chế độ thai sản không chỉ đơn thuần là quyền nghỉ việc có hưởng trợ cấp, mà là tổng hợp các quyền và lợi ích hợp pháp mà người lao động được Nhà nước bảo hộ khi phát sinh các sự kiện sinh học liên quan trực tiếp đến thai sản.

Căn cứ khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do các sự kiện như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Từ quy định này có thể hiểu, chế độ thai sản là cơ chế pháp lý nhằm:

  • Bù đắp thu nhập bị mất trong thời gian người lao động nghỉ việc vì thai sản;
  • Bảo vệ sức khỏe sinh sản của lao động nữ;
  • Góp phần ổn định đời sống gia đình và tái tạo sức lao động cho xã hội.

2. Đối tượng áp dụng chế độ thai sản

Theo Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, lao động nữ sinh con là đối tượng trực tiếp và phổ biến nhất được hưởng chế độ thai sản, với điều kiện có tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 (thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc) được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Lao động nữ mang thai;
  • Lao động nữ sinh con;
  • Lao động nữ mang thai hộ;
  • Lao động nữ nhờ mang thai hộ;
  • Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;
  • Người lao động sử dụng các biện pháp tránh thai mà các biện pháp đó phải được thực hiện tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
  • Lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có vợ sinh con, vợ mang thai hộ sinh con

3. Mức trợ cấp trong chế độ thai sản cho lao động nữ

3.1. Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc

Theo quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội năm 41/2024/QH15, chế độ trợ cấp một lần khi sinh con được áp dụng trên cơ sở điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội của người lao động, cụ thể như sau:

Thứ nhất, lao động nữ sinh con sẽ được hưởng trợ cấp một lần khi sinh con nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15.

Thứ hai, trong trường hợp lao động nữ sinh con nhưng không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo các khoản nêu trên, nếu người chồng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 2 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, thì người chồng sẽ là người được nhận trợ cấp một lần khi sinh con thay cho người vợ.

* Mức trợ cấp một lần khi sinh con

Mức trợ cấp một lần khi sinh con được xác định thống nhất cho mỗi con sinh ra, căn cứ vào mức tham chiếu tại thời điểm lao động nữ sinh con.

Cụ thể, theo Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, mức trợ cấp một lần được tính bằng 02 lần mức tham chiếu tại tháng lao động nữ sinh con.

Khái niệm mức tham chiếu được quy định tại Điều 7 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, theo đó đây là mức tiền do Chính phủ quyết định, được sử dụng làm căn cứ tính các chế độ bảo hiểm xã hội. Mức tham chiếu không cố định mà sẽ được điều chỉnh định kỳ, dựa trên các yếu tố như:

  • Mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng;
  • Tốc độ tăng trưởng kinh tế;
  • Khả năng cân đối của ngân sách nhà nước và Quỹ bảo hiểm xã hội.

Mức trợ cấp 1 lần tính trên mức tham chiếu trong chế độ thai sản cho lao động nữ hiện tại

Hiện tại, Chính phủ vẫn chưa công bố mức tham chiếu chính thức.

Quy định chuyển tiếp tại khoản 13 Điều 141 Luật BHXH 41/2024/QH quy định như sau

  1. Khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật này bằng mức lương cơ sở. Tại thời điểm mức lương cơ sở bị bãi bỏ thì mức tham chiếu không thấp hơn mức lương cơ sở đó.

Điều 5 Nghị định 158/2025/NĐ-CP quy định về mức tham chiếu:

  1. Mức tham chiếu là mức tiền do Chính phủ quyết định dùng để tính mức đóng, mức hưởng một số chế độ bảo hiểm xã hội quy định trong Luật Bảo hiểm xã hội.

  2. Khi chưa bãi bỏ mức lương cơ sở thì mức tham chiếu quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội bằng mức lương cơ sở. Tại thời điểm mức lương cơ sở bị bãi bỏ thì mức tham chiếu không thấp hơn mức lương cơ sở đó.

  3. Khi mức lương cơ sở bị bãi bỏ thì mức tham chiếu được Chính phủ điều chỉnh trên cơ sở mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế, phù hợp với khả năng của ngân sách nhà nước và quỹ bảo hiểm xã hội.

Hiện nay mức lương cơ sở vẫn chưa bị bãi bỏ, do đó mức tham chiếu hiện tại sẽ được tính bằng với mức lương cơ sở là 2.340.000 đồng.

Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Công văn số 38/TTg-QHĐP năm 2026 nhằm chỉ đạo việc tổ chức triển khai các nghị quyết được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV. Quốc hội đã thống nhất chủ trương điều chỉnh tăng mức lương cơ sở trong năm 2026, phù hợp với Kết luận số 206-KL/TW, và thời điểm thực hiện được xác định trong tháng 3 năm 2026.

Trên cơ sở đó, có thể khẳng định rằng việc tăng lương cơ sở sẽ được triển khai trong tháng 3/2026. Khi mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng và vượt ngưỡng 2,34 triệu đồng/tháng đang áp dụng hiện nay, thì mức tham chiếu dùng để tính các chế độ bảo hiểm xã hội cũng sẽ được điều chỉnh tương ứng. Điều này xuất phát từ quy định của pháp luật hiện hành, theo đó trong thời gian mức lương cơ sở chưa bị bãi bỏ, mức tham chiếu được xác định bằng mức lương cơ sở.

* Mức hưởng trợ cấp thai sản khi sinh con

Căn cứ Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15, mức hưởng trợ cấp thai sản được xác định trên cơ sở tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động.

Theo đó, trợ cấp thai sản hằng tháng của:

  • Lao động nữ sinh con;
  • Lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con.

được tính bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng liền kề trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản.

Trường hợp người lao động chưa đóng đủ 06 tháng bảo hiểm xã hội, mức trợ cấp thai sản được tính theo mức bình quân tiền lương của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội, đúng theo quy định của Luật.

Ngoài ra, để thuận tiện cho việc tính trợ cấp trong các trường hợp nghỉ theo ngày, Luật BHXH quy định: Mức trợ cấp thai sản một ngày = Mức trợ cấp thai sản một tháng / 24 ngày.

3.2. Đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện

Mức trợ cấp đối với người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được quy định tại Điều 95 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15.

Mức trợ cấp trong chế độ thai sản cho lao động nữ tham gia BHXH tự nguyện

3.3. Nguyên tắc hưởng bảo hiểm

Lưu ý, theo nguyên tắc hưởng bảo hiểm quy định tại các khoản 2 đến 6 Điều 94 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15:

  • Trường hợp chỉ có mẹ tham gia bảo hiểm xã hội mà mẹ chết sau khi sinh con thì cha hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng được hưởng trợ cấp thai sản.
  • Trường hợp cả cha và mẹ cùng tham gia bảo hiểm xã hội đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản thì chỉ cha hoặc mẹ được hưởng trợ cấp thai sản.
  • Trường hợp vừa có đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện và vừa có đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc thì chỉ được hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc.
  • Trường hợp mẹ đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, cha đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện thì mẹ được hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc và cha được hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện.
  • Trường hợp cha đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc, mẹ đủ điều kiện hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện thì cha được hưởng chế độ thai sản trong bảo hiểm xã hội bắt buộc và mẹ được hưởng trợ cấp thai sản trong bảo hiểm xã hội tự nguyện.

4. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản

4.1. Đối với lao động nữ

Theo Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản 06 tháng, bao gồm thời gian nghỉ trước và sau sinh. Trong trường hợp sinh từ hai con trở lên, kể từ con thứ hai, mỗi con sẽ được nghỉ thêm 01 tháng.

Theo khoản 4 Điều 139 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ có quyền quay lại làm việc trước khi hết thời gian nghỉ thai sản nếu:

  • Đã nghỉ ít nhất 04 tháng
  • Có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động
  • Được người sử dụng lao động đồng ý.

Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

4.2. Đối với lao động nam

Theo khoản 2 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản với thời gian cụ thể như sau:

  • 05 ngày làm việc trong trường hợp vợ sinh thường;
  • 07 ngày làm việc nếu vợ sinh con phải phẫu thuật hoặc sinh con dưới 32 tuần tuổi;
  • 10 ngày làm việc nếu vợ sinh đôi; nếu sinh ba trở lên thì cứ mỗi con từ con thứ ba trở đi được nghỉ thêm 03 ngày làm việc;
  • 14 ngày làm việc nếu vợ sinh đôi và phải phẫu thuật; trường hợp sinh ba trở lên và phải phẫu thuật thì cứ mỗi con từ con thứ ba trở đi được nghỉ thêm 03 ngày làm việc.

Ngày bắt đầu nghỉ việc đối với người lao động nam trong chế độ thai sản cho lao động nữ

5. Các trường hợp đặc biệt về chế độ thai sản theo Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15

Bên cạnh chế độ thai sản áp dụng phổ biến đối với lao động nữ sinh con theo cách thông thường, Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 đã dành riêng một nhóm quy định nhằm điều chỉnh những trường hợp đặc thù, phát sinh từ thực tiễn xã hội như mang thai hộ, nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai. Các quy định này thể hiện rõ nguyên tắc nhân văn, bảo đảm an sinh xã hội và quyền lợi của người lao động trong những hoàn cảnh đặc biệt.

5.1. Chế độ thai sản đối với lao động nữ mang thai hộ

(Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15)

Lao động nữ mang thai hộ được pháp luật công nhận là đối tượng hưởng chế độ thai sản, mặc dù không phải là người trực tiếp nuôi dưỡng đứa trẻ sau khi sinh.

Trước hết, trong giai đoạn mang thai, lao động nữ mang thai hộ vẫn được hưởng đầy đủ quyền lợi về nghỉ việc khi khám thai, với số lần và thời gian nghỉ tương tự như lao động nữ mang thai thông thường, căn cứ theo Điều 51 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15.

Trong trường hợp phát sinh rủi ro thai kỳ như sảy thai, phá thai theo chỉ định y tế, thai chết lưu, thai chết trong quá trình chuyển dạ hoặc mang thai ngoài tử cung, lao động nữ mang thai hộ được nghỉ việc và hưởng chế độ thai sản theo Điều 52 Luật này, với thời gian nghỉ phụ thuộc vào tuổi thai và tình trạng sức khỏe thực tế.

Khi sinh con, nếu lao động nữ mang thai hộ đáp ứng điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 50, thì được hưởng các quyền lợi đặc thù sau:

  • Được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ thời điểm sinh con cho đến khi giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ, tuy nhiên thời gian nghỉ không được vượt quá thời hạn tối đa quy định đối với lao động nữ sinh con theo khoản 1 Điều 53.
  • Trường hợp thời gian từ ngày sinh đến ngày giao con chưa đủ 60 ngày, thì lao động nữ mang thai hộ vẫn tiếp tục được hưởng chế độ thai sản cho đủ 60 ngày, bao gồm cả ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ hằng tuần. Thời điểm giao con được xác định theo văn bản xác nhận giao nhận con giữa hai bên.
  • Nếu trước thời điểm giao con mà đứa trẻ không còn sống, nhưng thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày, thì người mang thai hộ vẫn được đảm bảo quyền lợi hưởng đủ 60 ngày thai sản tối thiểu.

Sau khi kết thúc thời gian nghỉ thai sản nêu trên, trong vòng 30 ngày đầu trở lại làm việc, nếu sức khỏe chưa hồi phục, lao động nữ mang thai hộ có thể được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe theo Điều 60, với điều kiện vẫn còn quan hệ lao động tại thời điểm sinh con.

Ngoài ra, trong trường hợp lao động nữ mang thai hộ sinh con, người chồng đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cũng được hưởng quyền lợi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định dành cho lao động nam có vợ sinh con tại khoản 2 và khoản 3 Điều 53.

5.2. Chế độ thai sản đối với lao động nữ nhờ mang thai hộ

(Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15)

Đối với lao động nữ là bên nhờ mang thai hộ, pháp luật đặt trọng tâm bảo vệ quyền lợi tại thời điểm nhận con và chăm sóc trẻ sơ sinh.

Theo quy định, nếu lao động nữ nhờ mang thai hộ đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước thời điểm nhận con, thì được hưởng chế độ thai sản như sau:

  • Được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản kể từ ngày nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi. Trường hợp nhận nhiều con (sinh đôi trở lên), thì từ con thứ hai, mỗi con được nghỉ thêm 01 tháng.
  • Trường hợp người mẹ nhờ mang thai hộ không nghỉ việc, thì ngoài tiền lương do người sử dụng lao động chi trả, vẫn được hưởng khoản trợ cấp thai sản theo quy định.

Trong những tình huống đặc biệt, khi lao động nữ nhờ mang thai hộ chết hoặc được cơ sở y tế xác nhận không đủ sức khỏe để chăm sóc con trước khi con đủ 06 tháng tuổi, thì:

  • Người chồng hoặc người trực tiếp nuôi dưỡng sẽ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho khoảng thời gian còn lại mà người mẹ lẽ ra được hưởng.
  • Nếu người chồng hoặc người nuôi dưỡng vẫn tiếp tục làm việc, thì ngoài tiền lương, vẫn được nhận trợ cấp thai sản tương ứng với thời gian còn lại, với điều kiện đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

5.3. Chế độ thai sản khi nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi

(Điều 56 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15)

Luật Bảo hiểm xã hội 2024 cũng mở rộng phạm vi bảo vệ đối với người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, thể hiện rõ nguyên tắc bảo đảm quyền chăm sóc trẻ em trong giai đoạn đầu đời.

Theo đó:

  • Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản từ ngày nhận con cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.
  • Trường hợp cả cha và mẹ nuôi đều tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc và đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản, thì chỉ một trong hai người được lựa chọn nghỉ việc hưởng chế độ.
  • Nếu người lao động nhận nuôi con nuôi không nghỉ việc, thì chỉ được hưởng trợ cấp một lần khi nhận con nuôi, theo quy định tại Điều 58.

5.4. Chế độ thai sản khi thực hiện các biện pháp tránh thai

(Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15)

Ngoài các trường hợp liên quan đến sinh con, Luật còn quy định chế độ thai sản đối với người lao động thực hiện các biện pháp tránh thai theo chỉ định y tế, cụ thể:

  • Lao động nữ đặt dụng cụ tránh thai trong tử cung được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tối đa 07 ngày.
  • Người lao động thực hiện biện pháp triệt sản được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản không quá 15 ngày.

6. Một số câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Lao động nữ mang thai hộ đã đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản nhưng chấm dứt hợp đồng lao động sau khi sinh con và trước thời điểm giao đứa trẻ cho bên nhờ mang thai hộ thì có còn được bảo đảm thời gian hưởng thai sản tối thiểu 60 ngày hay không?

Trả lời:

Có. Theo điểm a khoản 3 Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, lao động nữ mang thai hộ khi sinh con và đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản tối thiểu đủ 60 ngày, kể cả trong trường hợp thời điểm giao con cho bên nhờ mang thai hộ diễn ra sớm hơn.

Quyền hưởng tối thiểu 60 ngày này không phụ thuộc vào việc còn hay không còn quan hệ lao động, miễn là người lao động đã đáp ứng điều kiện hưởng chế độ tại thời điểm sinh con theo Điều 50. Do đó, việc chấm dứt hợp đồng sau sinh không làm mất quyền hưởng chế độ thai sản đã phát sinh.

Câu hỏi 2: Lao động nữ nhờ mang thai hộ đồng thời đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản theo Điều 55 và thuộc trường hợp nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi theo Điều 56 thì có được hưởng đồng thời hai chế độ thai sản hay không?

Trả lời:

Không. Pháp luật bảo hiểm xã hội không cho phép hưởng đồng thời hai chế độ thai sản cho cùng một sự kiện chăm sóc trẻ em.

Trong trường hợp này, lao động nữ nhờ mang thai hộ sẽ được ưu tiên áp dụng chế độ thai sản theo Điều 55, vì đây là quy định chuyên biệt, điều chỉnh trực tiếp mối quan hệ nhờ mang thai hộ. Điều 56 chỉ được áp dụng đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi theo thủ tục nuôi con nuôi thông thường, không phát sinh từ quan hệ mang thai hộ. Nguyên tắc áp dụng luật được hiểu là ưu tiên quy định đặc thù hơn so với quy định chung.

Câu hỏi 3: Lao động nam có vợ mang thai hộ sinh con nhưng tại thời điểm sinh con đang trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động thì có được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản hay không?

Trả lời:

Không. Điều kiện để lao động nam được hưởng chế độ thai sản khi vợ sinh con theo khoản 2 và khoản 3 Điều 53 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15 là đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc tại thời điểm phát sinh sự kiện.

Trong thời gian tạm hoãn thực hiện hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động, người lao động không thuộc diện đóng BHXH bắt buộc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định riêng. Do đó, nếu thời điểm sinh con rơi vào giai đoạn tạm hoãn hợp đồng, lao động nam sẽ không đủ điều kiện hưởng chế độ thai sản.

Câu hỏi 4: Người lao động thực hiện biện pháp tránh thai theo chỉ định y tế nhưng tại cơ sở khám chữa bệnh không đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì có được hưởng chế độ thai sản hay không?

Trả lời:

Không. Theo Điều 57 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, điều kiện bắt buộc để được hưởng chế độ thai sản khi thực hiện biện pháp tránh thai là phải có chỉ định của người hành nghề khám chữa bệnh thuộc cơ sở khám chữa bệnh hợp pháp.

Trong trường hợp cơ sở y tế không đủ điều kiện hoạt động theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, thì hồ sơ hưởng chế độ thai sản sẽ không được chấp nhận, kể cả khi người lao động thực tế có thực hiện biện pháp tránh thai.

Trách nhiệm chứng minh điều kiện hưởng chế độ trước hết thuộc về người lao động, thông qua hồ sơ y tế hợp lệ; cơ quan bảo hiểm xã hội có trách nhiệm thẩm tra và từ chối chi trả nếu hồ sơ không hợp pháp.

Câu hỏi 5: Trường hợp lao động nữ mang thai hộ sinh con nhưng đứa trẻ chết trước thời điểm giao cho bên nhờ mang thai hộ, trong khi thời gian hưởng chế độ thai sản chưa đủ 60 ngày, thì quyền lợi thai sản của người mang thai hộ được giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Theo điểm a khoản 3 Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội 41/2024/QH15, trong trường hợp đứa trẻ chết trước thời điểm giao cho bên nhờ mang thai hộ mà thời gian hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ chưa đủ 60 ngày, thì người mang thai hộ vẫn được tiếp tục hưởng chế độ thai sản cho đến khi đủ 60 ngày, bao gồm cả ngày nghỉ lễ, Tết và ngày nghỉ hằng tuần.

Quy định này thể hiện rõ nguyên tắc bảo vệ sức khỏe và quyền lợi tối thiểu của lao động nữ, tách biệt quyền hưởng chế độ thai sản của người mang thai hộ khỏi tình trạng sinh tồn của đứa trẻ sau khi sinh.

7. Kết luận

Có thể khẳng định rằng, Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý tương đối đầy đủ, chặt chẽ và có tính nhân văn cao đối với chế độ thai sản, không chỉ đối với lao động nữ sinh con theo cách thông thường mà còn bao quát nhiều trường hợp đặc biệt phát sinh trong thực tiễn xã hội hiện đại như mang thai hộ, nhờ mang thai hộ, nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi và thực hiện các biện pháp tránh thai theo chỉ định y tế.

So với các quy định trước đây, hệ thống quy định mới cho thấy sự mở rộng phạm vi bảo vệ an sinh xã hội, đồng thời làm rõ nguyên tắc phát sinh và bảo toàn quyền hưởng chế độ thai sản, gắn chặt với điều kiện tham gia bảo hiểm xã hội và thời điểm phát sinh sự kiện pháp lý. Đặc biệt, việc quy định thời gian hưởng tối thiểu, cơ chế chuyển tiếp về mức tham chiếu, cũng như cách xử lý các tình huống rủi ro đã góp phần hạn chế khoảng trống pháp lý trong quá trình giải quyết chế độ.

Tuy nhiên, trên thực tế, việc áp dụng các quy định này đòi hỏi người lao động phải nắm rõ quyền và nghĩa vụ của mình, đồng thời doanh nghiệp và cơ quan bảo hiểm xã hội cần thực hiện đúng, đủ và thống nhất các quy định của pháp luật để tránh phát sinh tranh chấp. Trong bối cảnh chính sách tiền lương và mức tham chiếu có khả năng điều chỉnh trong thời gian tới, việc theo dõi kịp thời các văn bản hướng dẫn và chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền là yếu tố then chốt nhằm bảo đảm quyền lợi thai sản được thực hiện đầy đủ, đúng pháp luật.

Nhìn chung, chế độ thai sản theo Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 không chỉ mang ý nghĩa hỗ trợ tài chính, mà còn thể hiện rõ vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ sức khỏe sinh sản, chăm sóc trẻ em và ổn định đời sống người lao động, qua đó góp phần củng cố nền tảng an sinh xã hội bền vững trong giai đoạn phát triển mới.

Trở về chuyên trang

Bài viết liên quan

Xem tất cả »
Chát Zalo với chúng tôi