Chuyển đến nội dung chính

 ·  Tác giả: Cao Thị Phương Anh  ·  Tham vấn bởi: Luật sư Nguyễn Văn Thành  ·  Lương và Phúc lợi  ·  16 phút đọc

Bàn về bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số

Bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số: phân tích quy định hiện hành, trách nhiệm đóng của doanh nghiệp và đề xuất bảo vệ tài xế công nghệ.

Bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số: phân tích quy định hiện hành, trách nhiệm đóng của doanh nghiệp và đề xuất bảo vệ tài xế công nghệ.

Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số đang đặt ra những vấn đề mới về bảo hiểm xã hội cho người lao động, đặc biệt là tài xế công nghệ, nhân viên giao hàng và những người làm việc thông qua ứng dụng trực tuyến. Dù tạo ra cơ hội việc làm linh hoạt, mô hình này cũng bộc lộ khoảng trống về an sinh xã hội, nhất là khi người lao động gặp tai nạn, mất khả năng làm việc hoặc bước vào tuổi nghỉ hưu.

Mới đây, trong chia sẻ với Báo Lao Động, Luật sư Nguyễn Văn Thành - Luật sư điều hành Công ty Luật TNHH Youth & Partners đã đưa ra những phân tích pháp lý và kiến nghị về cơ chế bảo hiểm xã hội đối với tài xế công nghệ. Vấn đề đáng chú ý không chỉ là mở rộng diện tham gia mà còn là xác định đúng quan hệ lao động, trách nhiệm của doanh nghiệp nền tảng và khả năng xây dựng chính sách an sinh phù hợp.

1. Thực trạng bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số tại Việt Nam

Bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số

Tài xế công nghệ và nhân viên giao hàng đang trở thành lực lượng quan trọng trong hoạt động vận tải, thương mại điện tử và dịch vụ đô thị. Nhiều người dành phần lớn thời gian trong ngày để nhận đơn hàng, vận chuyển hành khách và duy trì nguồn thu nhập cho gia đình.

Tuy nhiên, đặc điểm công việc khiến nhóm lao động này phải đối mặt với nhiều rủi ro như tai nạn giao thông, thời tiết khắc nghiệt, thời gian làm việc kéo dài và thu nhập không ổn định.

Luật sư Nguyễn Văn Thành nhận định rằng việc mở rộng an sinh cho tài xế công nghệ xuất phát từ thực tế họ trực tiếp tạo ra thu nhập bằng sức lao động nhưng chưa được bảo vệ tương xứng trước các rủi ro nghề nghiệp.

Khác với người làm việc tại doanh nghiệp theo hợp đồng lao động, nhiều tài xế hiện tham gia nền tảng dưới hình thức hợp tác hoặc đối tác kinh doanh. Điều này làm phát sinh những tranh luận về trách nhiệm đóng bảo hiểm và cơ chế bảo vệ khi xảy ra rủi ro.

Xét về mục tiêu an sinh, việc mở rộng phạm vi bảo vệ không chỉ nhằm tăng số người tham gia BHXH mà còn giúp người lao động duy trì sự ổn định tài chính lâu dài.

2. Quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số

2.1. Tài xế công nghệ có thuộc diện bảo hiểm xã hội cho người lao động bắt buộc?

Theo khoản 1 Điều 13 Bộ luật Lao động năm 2019, trường hợp hai bên thỏa thuận bằng tên gọi khác nhưng nội dung thể hiện việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì vẫn được coi là hợp đồng lao động.

Đồng thời, điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 xác định người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng xác định thời hạn từ đủ một tháng trở lên thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm cả những thỏa thuận có tên gọi khác nhưng mang bản chất quan hệ lao động.

Như vậy, tên gọi “đối tác”, “cộng tác viên” hoặc “hợp đồng hợp tác” không phải căn cứ duy nhất để loại trừ nghĩa vụ BHXH.

Tuy nhiên, điều này cũng không đồng nghĩa mọi tài xế sử dụng ứng dụng công nghệ đều mặc nhiên là người lao động của doanh nghiệp nền tảng. Việc xác định phải dựa trên hợp đồng và cách tổ chức công việc thực tế.

2.2. Dấu hiệu quản lý, điều hành ảnh hưởng đến bảo hiểm xã hội cho người lao động

Luật sư bàn về bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số

Theo phân tích của Luật sư Nguyễn Văn Thành, cần đánh giá ba yếu tố quan trọng để nhận diện quan hệ lao động: quản lý, điều hành và giám sát.

Về quản lý, cơ quan có thẩm quyền cần xem xét doanh nghiệp chỉ cung cấp công cụ kết nối khách hàng hay trực tiếp tổ chức tài xế thành một lực lượng lao động chịu sự chỉ đạo của mình.

Về điều hành, những quy định liên quan đến thời gian hoạt động, tỷ lệ nhận chuyến, phân bổ công việc và chế tài khi từ chối chuyến xe có thể phản ánh mức độ kiểm soát của nền tảng.

Về giám sát, việc sử dụng dữ liệu định vị, đánh giá hiệu suất hoặc khóa tài khoản cũng cần được xem xét theo mục đích và cách thức áp dụng.

Tuy nhiên, khoản 1 Điều 516 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng cho phép bên sử dụng dịch vụ yêu cầu công việc được thực hiện đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.

Do đó, không phải mọi hoạt động kiểm tra chất lượng dịch vụ đều chứng minh sự tồn tại của quan hệ lao động.

Điểm cần làm rõ là nền tảng đang kiểm soát kết quả dịch vụ hay trực tiếp chi phối quá trình làm việc của tài xế. Đây là cơ sở quan trọng để đánh giá trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động trong từng trường hợp cụ thể.

2.3. Bảo hiểm xã hội cho người lao động bán thời gian và chạy nhiều ứng dụng

Thực tế, nhiều tài xế đồng thời hoạt động trên hai hoặc nhiều nền tảng. Một số người làm việc toàn thời gian, trong khi những người khác chỉ nhận chuyến vào thời gian rảnh.

Theo điểm l khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người làm việc không trọn thời gian theo quan hệ thuộc điểm a cùng khoản, có tiền lương trong tháng bằng hoặc cao hơn mức tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc thấp nhất, thuộc diện tham gia bắt buộc.

Đối với trường hợp có nhiều hợp đồng lao động, điểm a khoản 5 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định nguyên tắc tham gia BHXH bắt buộc theo hợp đồng lao động giao kết đầu tiên, đồng thời có quy định xử lý trường hợp hợp đồng đang dùng làm căn cứ tham gia bị tạm hoãn.

Vì vậy, việc chạy nhiều ứng dụng không tự động làm phát sinh nghĩa vụ đóng BHXH tại tất cả nền tảng, nhưng cũng không phải căn cứ để miễn trừ nghĩa vụ theo pháp luật.

3. Trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động thuộc nền tảng số

3.1. Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động và doanh nghiệp

Khi tài xế được xác định thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc theo hợp đồng lao động, trách nhiệm đóng được phân chia theo quy định hiện hành.

Cụ thể, điểm a khoản 1 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 quy định người lao động đóng 8% tiền lương làm căn cứ đóng vào quỹ hưu trí và tử tuất.

Theo điểm a và điểm b khoản 1 Điều 34 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, người sử dụng lao động đóng 3% vào quỹ ốm đau và thai sản, cùng 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất.

Ngoài ra, mức đóng thông thường vào quỹ bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp là 0,5% theo điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định số 58/2020/NĐ-CP, đã được sửa đổi, bổ sung.

Như vậy, với trường hợp thông thường, tỷ lệ đóng BHXH của người lao động là 8%, phía người sử dụng lao động là 17,5%, chưa bao gồm bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.

3.2. Căn cứ tính tiền lương đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động

Một vấn đề khác là xác định khoản thu nhập nào được sử dụng để tính đóng BHXH.

Theo điểm b khoản 1 Điều 31 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, đối với người lao động hưởng chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, tiền lương đóng BHXH bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung được thỏa thuận trả thường xuyên, ổn định trong mỗi kỳ trả lương.

Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 96 Bộ luật Lao động năm 2019 cho phép người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán.

Độc giả có thể tìm hiểu sâu hơn tại bài viết Quy định pháp luật mới nhất về lương đóng bảo hiểm xã hội của Youth & Partners để phân biệt tiền lương, phụ cấp và các khoản thu nhập liên quan.

3.3. Bảo hiểm xã hội cho người lao động thực sự kinh doanh độc lập

Đối với tài xế có quyền tự tổ chức hoạt động kinh doanh và không thuộc diện tham gia bắt buộc, BHXH tự nguyện là một lựa chọn cần được quan tâm.

Theo điểm a khoản 4 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên, không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc và không thuộc các trường hợp hưởng chế độ được luật loại trừ, có thể tham gia BHXH tự nguyện.

Mức đóng hằng tháng bằng 22% thu nhập làm căn cứ đóng theo khoản 1 Điều 36 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024.

Tuy nhiên, cần phân biệt tài xế kinh doanh độc lập với chủ hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, bởi điểm m khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đã quy định nhóm chủ hộ kinh doanh thuộc diện tham gia bắt buộc theo lộ trình do Chính phủ quy định.

Nội dung này cũng được phân tích tại bài Chủ kinh doanh cần ký Hợp đồng lao động để đóng BHXH không?, giúp làm rõ sự khác biệt giữa nghĩa vụ BHXH phát sinh từ quan hệ lao động và nghĩa vụ phát sinh từ tư cách pháp lý của chủ thể kinh doanh.

4. Đề xuất hoàn thiện bảo hiểm xã hội cho người lao động nền tảng số

Bàn về bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số

4.1. Cơ chế chia sẻ trách nhiệm bảo hiểm xã hội cho người lao động

Một trong những vấn đề được quan tâm khi mở rộng chính sách bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số là xác định trách nhiệm đóng góp giữa tài xế, doanh nghiệp vận hành ứng dụng và Nhà nước. Đối với nhóm tài xế thực sự hoạt động độc lập, việc yêu cầu họ tự gánh toàn bộ chi phí bảo hiểm có thể tạo ra áp lực tài chính, nhất là khi thu nhập còn phụ thuộc vào số chuyến xe và các khoản chi phí vận hành.

Trao đổi với Báo Lao Động, Luật sư Nguyễn Văn Thành - Luật sư điều hành Công ty Luật TNHH Youth & Partners đề xuất nghiên cứu cơ chế cùng đóng góp, trong đó tài xế tham gia một phần, doanh nghiệp nền tảng chia sẻ trách nhiệm và Nhà nước có chính sách hỗ trợ phù hợp đối với nhóm thu nhập thấp.

Play

Theo hướng tiếp cận này, cơ chế đóng góp cần tính đến đặc điểm thu nhập biến động và những chi phí thực tế như nhiên liệu, bảo dưỡng, hao mòn phương tiện. Đồng thời, cần phân biệt rõ giữa nghĩa vụ BHXH bắt buộc đã được pháp luật quy định đối với người có quan hệ lao động theo điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 và kiến nghị xây dựng cơ chế chia sẻ riêng cho nhóm lao động độc lập.

Việc nghiên cứu cơ chế phù hợp không chỉ hướng đến mở rộng diện bao phủ BHXH mà còn đặt ra yêu cầu cân bằng giữa quyền lợi an sinh của người lao động, trách nhiệm của doanh nghiệp nền tảng và tính khả thi trong quá trình triển khai chính sách.

4.2. Kinh nghiệm quốc tế về bảo hiểm xã hội cho người lao động qua ứng dụng

Một số quốc gia đã phát triển cơ chế bảo vệ riêng đối với những người làm việc trong nền kinh tế nền tảng.

Tại Anh, phán quyết của Tòa án Tối cao trong vụ Uber BV v Aslam năm 2021 xác định các tài xế trong vụ án thuộc nhóm “worker”, từ đó được hưởng một số quyền bảo vệ lao động như lương tối thiểu và nghỉ phép có lương. Phán quyết không đồng nghĩa với việc tất cả tài xế Uber được công nhận là “employee”.

Trong khi đó, Singapore triển khai cơ chế đóng góp vào Quỹ Tiết kiệm Trung ương (CPF) đối với người lao động nền tảng thuộc phạm vi áp dụng, với sự tham gia của người lao động và đơn vị vận hành nền tảng.

Chính sách được triển khai theo lộ trình tăng mức đóng giai đoạn 2025–2029 và có hỗ trợ chuyển tiếp cho nhóm đáp ứng điều kiện.

Những kinh nghiệm này cho thấy việc bảo đảm an sinh không nhất thiết phải áp dụng một mô hình duy nhất cho mọi hình thức làm việc. Điều quan trọng là xác định đúng đối tượng, trách nhiệm đóng góp và mức độ bảo vệ phù hợp.

4.3. Những vấn đề cần giải quyết khi mở rộng bảo hiểm xã hội cho người lao động

Để chính sách khả thi, việc mở rộng diện bao phủ BHXH đối với lao động nền tảng cần giải quyết đồng thời nhiều vấn đề.

Trước hết, cần có tiêu chí pháp lý rõ ràng nhằm phân biệt người lao động theo hợp đồng với người thực sự hoạt động độc lập.

Tiếp theo, cơ chế đóng góp phải phù hợp với đặc điểm thu nhập biến động, tránh tạo ra gánh nặng khiến người lao động khó duy trì tham gia lâu dài.

Ngoài ra, cần xây dựng phương thức ghi nhận thời gian đóng đối với người làm việc trên nhiều ứng dụng và cơ chế giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của các bên.

Quan trọng hơn, chính sách mới không được làm giảm quyền lợi của những người vốn đã thuộc diện BHXH bắt buộc theo pháp luật hiện hành.

5. Chuyển đổi số và việc quản lý bảo hiểm xã hội cho người lao động

5.1. Hợp đồng điện tử góp phần minh bạch bảo hiểm xã hội cho người lao động

Chuyển đổi số đang làm thay đổi cách xác lập, lưu trữ và quản lý quan hệ lao động.

Theo khoản 1 Điều 14 Bộ luật Lao động năm 2019, hợp đồng lao động được giao kết thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị như hợp đồng lao động bằng văn bản.

Đồng thời, khoản 1 Điều 3 Nghị định số 337/2025/NĐ-CP tiếp tục xác định giá trị pháp lý của hợp đồng lao động điện tử.

Đáng chú ý, Nghị quyết số 44/2026/NQ-CP ngày 30/10/2026 của Chính phủ đã bổ sung giải pháp chuyển tiếp, cho phép một số nhà cung cấp eContract tiếp tục cung cấp dịch vụ trong thời gian chờ kết nối đến hết ngày 31/12/2026. Nền tảng hợp đồng lao động điện tử được yêu cầu vận hành chính thức chậm nhất ngày 15/12/2026.

Những cập nhật này có ý nghĩa đối với việc minh bạch thỏa thuận, tiền lương và trách nhiệm của các bên, qua đó hỗ trợ quá trình xác định nghĩa vụ BHXH. Độc giả có thể tham khảo thêm bài viết Hợp đồng lao động điện tử: Quy định pháp luật mới 2026 để hiểu rõ hơn về giá trị pháp lý của hình thức giao kết này.

5.2. Ứng dụng dữ liệu số trong bảo hiểm xã hội cho người lao động

Không chỉ hợp đồng lao động, hoạt động quản lý BHXH cũng đang chuyển mạnh sang môi trường điện tử.

Theo khoản 2 Điều 25 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, sổ BHXH điện tử và sổ giấy có giá trị pháp lý như nhau; pháp luật quy định thực hiện cấp sổ điện tử chậm nhất từ ngày 01/01/2026. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 26 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 công nhận giá trị pháp lý tương đương của giao dịch điện tử trong lĩnh vực BHXH khi đáp ứng điều kiện pháp luật.

Đối với tài xế hoạt động trên nhiều nền tảng, việc liên thông thông tin về thu nhập, hợp đồng và quá trình tham gia có thể giúp hạn chế tình trạng kê khai trùng lặp, bỏ sót nghĩa vụ hoặc khó đối chiếu quyền lợi. Tuy nhiên, việc chia sẻ dữ liệu cần bảo đảm nguyên tắc bảo vệ thông tin cá nhân và chỉ được thực hiện trong phạm vi pháp luật cho phép.

6. Kết luận về bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số

Bàn về bảo hiểm xã hội cho người lao động trên nền tảng số không chỉ là câu chuyện bổ sung đối tượng tham gia BHXH, mà còn là vấn đề xác định bản chất quan hệ lao động và phân bổ trách nhiệm an sinh trong nền kinh tế số.

Trong bối cảnh các ứng dụng công nghệ tiếp tục mở rộng, việc áp dụng đúng Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, đồng thời nghiên cứu cơ chế phù hợp cho lao động độc lập, là hai nhiệm vụ cần được thực hiện song song.

Một chính sách hiệu quả cần bảo đảm người đã thuộc diện BHXH bắt buộc được thực hiện đầy đủ quyền lợi, đồng thời mở ra cơ hội bảo vệ thiết thực hơn cho những người đang nằm ngoài phạm vi bảo vệ hiện hành. Đây cũng là định hướng quan trọng để phát triển thị trường lao động số bền vững tại Việt Nam.

Trở về chuyên trang

Bài viết liên quan

Xem tất cả »
Chát Zalo với chúng tôi