Chuyển đến nội dung chính

 ·  Tác giả: Lưu Huyền Linh  ·  Tham vấn bởi: Luật sư Nguyễn Văn Thành  ·  Bình luận pháp lý  ·  15 phút đọc

Án lệ 70/2023/AL về việc chấm dứt hợp đồng lao động

Án lệ số 70/2023/AL xác định, làm rõ điều kiện thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách khi hợp đồng lao động hết hạn.

Án lệ số 70/2023/AL xác định, làm rõ điều kiện thực hiện chấm dứt hợp đồng lao động đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách khi hợp đồng lao động hết hạn.

Ngày 01, 02 và 06/11/2023, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã thông qua Án lệ số 70/2023/AL về việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách. Án lệ được Chánh án TANDTC công bố theo Quyết định số 364/QĐ-CA ngày 01/12/2023 và được áp dụng trong xét xử kể từ ngày 01/01/2024.

Án lệ số 70/2023/AL làm rõ căn cứ xác định việc chấm dứt hợp đồng lao động do hết hạn hợp đồng đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách trong trường hợp người lao động được bầu giữ chức vụ công đoàn nhưng việc bầu cử không đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của tổ chức công đoàn. Đây là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn giải quyết tranh chấp lao động, góp phần thống nhất việc áp dụng quy định của Bộ luật Lao động về chấm dứt hợp đồng lao động và bảo đảm sự hài hòa giữa quyền của người lao động, người sử dụng lao động và tổ chức công đoàn.

1. Nguồn của án lệ

Án lệ số 70/2023/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 02/2022/LĐ-GĐT ngày 27/6/2022 của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án lao động “Tranh chấp về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” giữa nguyên đơn là ông Vương Quốc A và bị đơn là Công ty TNHH K Việt Nam. Nội dung án lệ được xác định tại đoạn 3 và đoạn 4 phần “Nhận định của Tòa án”.

2. Khái quát nội dung của án lệ

Tình huống pháp lý của án lệ được đặt ra trong trường hợp người lao động ký hợp đồng lao động xác định thời hạn và được gia hạn hợp đồng để hoàn thành nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời. Trước khi hợp đồng lao động hết hạn, người sử dụng lao động đã nhiều lần thông báo về việc không tiếp tục ký kết hợp đồng. Tuy nhiên, khi hợp đồng chỉ còn thời hạn ngắn, người lao động vẫn được đưa vào danh sách ứng cử và được bầu giữ chức vụ Chủ tịch Công đoàn cơ sở nhiệm kỳ mới mặc dù không đáp ứng điều kiện về thời gian công tác theo quy định của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Từ đó phát sinh vấn đề pháp lý về việc liệu người sử dụng lao động có được chấm dứt hợp đồng lao động khi hợp đồng hết hạn hay phải tiếp tục sử dụng người lao động do họ đang giữ chức vụ cán bộ công đoàn không chuyên trách.

2.1. Giải pháp pháp lý

Theo Án lệ số 70/2023/AL, trong trường hợp người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách được bầu vào Ban Chấp hành Công đoàn nhiệm kỳ mới nhưng việc bầu cử không đáp ứng điều kiện theo quy định của tổ chức công đoàn, đồng thời hợp đồng lao động đã hết thời hạn và người sử dụng lao động đã thông báo trước về việc không tiếp tục ký kết hợp đồng, thì việc chấm dứt hợp đồng lao động do hết hạn hợp đồng là đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, Án lệ số 70/2023/AL khẳng định rằng việc người lao động giữ chức vụ cán bộ công đoàn không chuyên trách không đương nhiên làm phát sinh nghĩa vụ tiếp tục giao kết hợp đồng lao động khi hợp đồng đã hết hạn. Khi xem xét tính hợp pháp của việc chấm dứt hợp đồng lao động, Tòa án cần đánh giá toàn diện các tình tiết của vụ việc, bao gồm căn cứ gia hạn hợp đồng, việc thông báo của người sử dụng lao động, điều kiện ứng cử của người lao động theo quy định của tổ chức công đoàn và tính hợp lệ của việc bầu cử chức danh công đoàn.

2.2. Nội dung vụ án

Theo Quyết định giám đốc thẩm được lựa chọn phát triển thành Án lệ số 70/2023/AL, ông Vương Quốc A và Công ty TNHH K Việt Nam ký hợp đồng lao động xác định thời hạn 12 tháng từ ngày 25/4/2015 đến ngày 25/4/2016. Trong thời gian hợp đồng còn hiệu lực, Công đoàn cơ sở của Công ty được thành lập và ông A được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời với nhiệm vụ tổ chức Đại hội Công đoàn cơ sở trước ngày 25/11/2016. Để bảo đảm ông A tiếp tục thực hiện nhiệm vụ công đoàn, hai bên thỏa thuận gia hạn hợp đồng lao động đến hết ngày 25/11/2016, tương ứng với thời điểm kết thúc nhiệm kỳ Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời.

Trước khi hợp đồng lao động hết hạn, Công ty nhiều lần thông báo bằng văn bản về việc không tái ký hợp đồng lao động với ông A sau khi thời hạn gia hạn kết thúc. Các thông báo này đều được gửi cho ông A và Công đoàn Khu công nghiệp B theo quy định. Tuy nhiên, trong thời gian hợp đồng chỉ còn khoảng một tháng, Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời vẫn tiến hành Đại hội Công đoàn cơ sở và đưa ông A vào danh sách ứng cử. Sau Đại hội, ông A được bầu làm Chủ tịch Công đoàn cơ sở nhiệm kỳ 2016–2021 và được Công đoàn Khu công nghiệp ban hành quyết định công nhận kết quả bầu cử.

Ngày 25/11/2016, sau khi hết thời hạn gia hạn hợp đồng lao động, Công ty ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông A do hết hạn hợp đồng lao động. Cho rằng việc chấm dứt hợp đồng đối với mình là trái pháp luật vì đang giữ chức vụ Chủ tịch Công đoàn cơ sở, ông A khởi kiện yêu cầu Công ty nhận ông trở lại làm việc, thanh toán tiền lương trong thời gian không được làm việc, bồi thường do đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động và truy đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định việc Công ty chấm dứt hợp đồng lao động là đúng quy định nên không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông A. Tuy nhiên, Tòa án cấp phúc thẩm lại cho rằng việc chấm dứt hợp đồng lao động là trái pháp luật, sửa bản án sơ thẩm và buộc Công ty phải thanh toán tiền lương, tiền bồi thường và truy đóng bảo hiểm xã hội cho ông A. Không đồng ý với bản án phúc thẩm, Công ty TNHH K Việt Nam đề nghị xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm. Sau đó, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã kháng nghị đề nghị hủy bản án phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

2.3. Nhận định của Tòa án

Khi xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định việc gia hạn hợp đồng lao động của ông A đến hết ngày 25/11/2016 nhằm bảo đảm ông hoàn thành nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời là phù hợp với khoản 6 Điều 192 Bộ luật Lao động và Điều 25 Luật Công đoàn. Đồng thời, ngay từ trước khi hợp đồng hết hạn, Công ty đã nhiều lần thông báo rõ việc sẽ không tiếp tục ký kết hợp đồng lao động sau khi thời gian gia hạn kết thúc và ông A cũng thừa nhận đã nhận được các thông báo này.

Hội đồng xét xử cũng xác định rằng tại thời điểm diễn ra Đại hội Công đoàn cơ sở vào ngày 24/10/2016, hợp đồng lao động của ông A chỉ còn thời hạn khoảng một tháng. Theo Hướng dẫn số 398/HD-TLĐ ngày 28/3/2012 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, người tái cử Ban Chấp hành Công đoàn phải còn đủ thời gian công tác để đảm nhiệm ít nhất một nửa nhiệm kỳ. Trong khi đó, ông A không đáp ứng điều kiện này nhưng vẫn được đưa vào danh sách ứng cử và được bầu làm Chủ tịch Công đoàn cơ sở nhiệm kỳ 2016–2021. Vì vậy, Hội đồng xét xử kết luận việc bầu cử và công nhận ông A giữ chức vụ Chủ tịch Công đoàn cơ sở không đáp ứng điều kiện theo quy định của tổ chức công đoàn.

Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử nhận định sau khi hết thời hạn gia hạn hợp đồng lao động, Công ty ban hành quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông A do hết hạn hợp đồng là đúng quy định tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động. Việc ông A đang giữ chức vụ Chủ tịch Công đoàn cơ sở trong nhiệm kỳ 2016–2021 không làm phát sinh nghĩa vụ buộc Công ty phải tiếp tục giao kết hợp đồng lao động khi việc bầu cử chức danh này không đáp ứng điều kiện theo quy định. Do đó, yêu cầu khởi kiện của ông A là không có căn cứ chấp nhận.

Nhận định của Tòa án theo Án lệ 70/2023/AL

Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, hủy bản án phúc thẩm và giữ nguyên bản án sơ thẩm, xác định việc Công ty TNHH K Việt Nam chấm dứt hợp đồng lao động với ông Vương Quốc A là đúng quy định của pháp luật.

3. Nội dung Án lệ

[3] Tại thời điểm ngày 24/10/2016, khi Ban Chấp hành Công đoàn lâm thời tiến hành Đại hội thì hợp đồng lao động của ông A chỉ còn thời hạn 01 tháng, nhưng ông A và Công đoàn Khu công nghiệp vẫn đưa ông A vào danh sách bầu cử Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở để bầu là không phù hợp với Hướng dẫn số 398/HD-TLĐ ngày 28/3/2012 của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là: ‘Người tham gia Ban Chấp hành ngoài đảm bảo theo tiêu chuẩn, còn phải đáp ứng các điều kiện sau: về tái cử ban chấp hành: Có đủ tuổi công tác để đảm nhiệm ít nhất 1/2 nhiệm kỳ’. Do đó, việc ông A trúng cử Chủ tịch Ban Chấp hành Công đoàn cơ sở Công ty K nhiệm kỳ 2016-2021 và được Công đoàn Khu công nghiệp ban hành Quyết định số 138/QĐCN-CĐKCN ngày 27/10/2016 công nhận là không hợp lệ về tiêu chuẩn người ứng cử, người trúng cử.”

[4] Sau khi hết thời hạn gia hạn hợp đồng lao động, Công ty K ban hành Quyết định số 05/2016/QĐNV-KD ngày 25/11/2016 chấm dứt hợp đồng lao động với ông A là đúng quy định tại khoản 1 Điều 36 của Bộ luật Lao động. Do đó, việc ông A khởi kiện cho rằng việc Công ty K ban hành Quyết định chấm dứt hợp đồng lao động với ông trái pháp luật là không có cơ sở chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông A là không đúng quy định của pháp luật.”

4. Bình luận và giá trị áp dụng của Án lệ số 70/2023/AL

Án lệ số 70/2023/AL có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ mối quan hệ giữa quy định của pháp luật lao động và pháp luật về công đoàn khi xem xét tính hợp pháp của việc chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách. Thông qua án lệ này, Hội đồng Thẩm phán khẳng định rằng việc người lao động đang giữ chức vụ trong tổ chức công đoàn không đương nhiên làm phát sinh nghĩa vụ tiếp tục giao kết hợp đồng lao động nếu hợp đồng đã hết hạn và việc chấm dứt hợp đồng đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

Điểm đáng chú ý của án lệ là Hội đồng Thẩm phán không chỉ xem xét căn cứ chấm dứt hợp đồng lao động theo Bộ luật Lao động mà còn đánh giá tính hợp lệ của việc người lao động được bầu giữ chức vụ Chủ tịch Công đoàn cơ sở. Mặc dù ông A được Đại hội Công đoàn cơ sở bầu làm Chủ tịch nhiệm kỳ 2016–2021 và được cơ quan công đoàn công nhận, nhưng tại thời điểm ứng cử, hợp đồng lao động của ông chỉ còn thời hạn một tháng nên không đáp ứng điều kiện về thời gian công tác theo Hướng dẫn số 398/HD-TLĐ của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Vì vậy, việc bầu cử này không đủ căn cứ để làm phát sinh cơ chế bảo vệ dành cho cán bộ công đoàn theo quy định của pháp luật.

Theo quan điểm của Y&P, giá trị cốt lõi của Án lệ số 70/2023/AL nằm ở việc khẳng định rằng cơ chế bảo vệ cán bộ công đoàn không chuyên trách chỉ được áp dụng khi người lao động đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật và của tổ chức công đoàn. Trong trường hợp việc bầu cử không hợp lệ hoặc không đáp ứng điều kiện ứng cử, người lao động không thể viện dẫn chức danh công đoàn để yêu cầu người sử dụng lao động tiếp tục duy trì quan hệ lao động sau khi hợp đồng đã hết hạn.

Bên cạnh đó, án lệ cũng có ý nghĩa thực tiễn đối với doanh nghiệp trong quá trình quản lý lao động. Khi hợp đồng lao động của cán bộ công đoàn không chuyên trách sắp hết hạn, người sử dụng lao động cần thông báo rõ ràng, kịp thời về việc không tiếp tục giao kết hợp đồng, đồng thời bảo đảm việc chấm dứt hợp đồng được thực hiện đúng căn cứ pháp luật. Ngược lại, tổ chức công đoàn cũng cần tuân thủ đầy đủ các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện ứng cử và bầu cử Ban Chấp hành Công đoàn nhằm bảo đảm tính hợp pháp của kết quả bầu cử và tránh phát sinh tranh chấp lao động.

Bình luận án lệ 70/2023/AL

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng Án lệ số 70/2023/AL không đồng nghĩa với việc người sử dụng lao động luôn được quyền chấm dứt hợp đồng lao động đối với cán bộ công đoàn không chuyên trách khi hợp đồng hết hạn. Việc áp dụng án lệ chỉ đặt ra đối với các vụ việc có tình tiết pháp lý tương tự, trong đó người sử dụng lao động đã thực hiện đúng quy định về thời hạn hợp đồng, việc thông báo chấm dứt hợp đồng và người lao động được bầu giữ chức vụ công đoàn nhưng không đáp ứng điều kiện ứng cử theo quy định của tổ chức công đoàn.

5. Một số câu hỏi thường gặp

Người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách có luôn được tiếp tục ký hợp đồng lao động khi hợp đồng hết hạn không?

Không. Theo tinh thần của Án lệ số 70/2023/AL, việc người lao động giữ chức vụ cán bộ công đoàn không chuyên trách không đương nhiên buộc người sử dụng lao động phải tiếp tục giao kết hợp đồng lao động khi hợp đồng đã hết hạn.

Doanh nghiệp có được chấm dứt hợp đồng lao động với Chủ tịch Công đoàn cơ sở khi hợp đồng hết hạn không?

Có. Nếu hợp đồng lao động hết thời hạn, doanh nghiệp đã thực hiện đúng quy định của pháp luật và việc người lao động được bầu giữ chức vụ công đoàn không đáp ứng điều kiện theo quy định của tổ chức công đoàn, thì việc chấm dứt hợp đồng lao động là có căn cứ theo Án lệ số 70/2023/AL.

Án lệ số 70/2023/AL có áp dụng cho mọi trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động với cán bộ công đoàn không?

Không. Án lệ chỉ được nghiên cứu và áp dụng đối với các vụ việc có tình tiết pháp lý tương tự, trong đó người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách, hợp đồng lao động hết hạn và việc bầu giữ chức vụ công đoàn không đáp ứng các điều kiện theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của tổ chức công đoàn.

Xem thêm: Dịch Vụ Xử Lý Tranh Chấp Khi Chấm Dứt Hợp Đồng Lao Động

Trở về chuyên trang

Bài viết liên quan

Xem tất cả »
Chát Zalo với chúng tôi