· Tác giả: Lưu Huyền Linh · Tham vấn bởi: Luật sư Nguyễn Văn Thành · Bình luận pháp lý · 14 phút đọc
Án lệ 71/2024/AL: Đình chỉ vụ án đã được giải quyết
Án lệ số 71/2024/AL xác định, làm rõ trường hợp Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án dân sự khi tranh chấp đất đai đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết
Ngày 20, 21 và 23/02/2024, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã thông qua Án lệ số 71/2024/AL về việc đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Án lệ được Chánh án TANDTC công bố theo Quyết định số 119A/QĐ-CA ngày 15/5/2024 và được áp dụng trong xét xử kể từ ngày 15/6/2024.
Án lệ số 71/2024/AL làm rõ căn cứ để Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án trong trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng đương sự vẫn tiếp tục khởi kiện tại Tòa án và yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại. Đây là án lệ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai, bảo đảm nguyên tắc tôn trọng hiệu lực của quyết định hành chính đã có hiệu lực pháp luật và tránh việc giải quyết lặp lại cùng một vụ việc.
1. Nguồn của án lệ
Án lệ số 71/2024/AL được xây dựng trên cơ sở Quyết định giám đốc thẩm số 14/2022/DS-GĐT ngày 28/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân” giữa nguyên đơn là bà Đặng Thị Thu H và bị đơn là bà Nguyễn Thị C. Nội dung án lệ được xác định tại đoạn 3, 4 và 6 phần “Nhận định của Tòa án”.
2. Khái quát nội dung của án lệ
Tình huống pháp lý của án lệ được đặt ra trong trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết bằng quyết định có hiệu lực pháp luật. Sau khi quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực, nguyên đơn vẫn tiếp tục khởi kiện tại Tòa án yêu cầu giải quyết lại tranh chấp quyền sử dụng đất và đồng thời yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đáng chú ý, nguyên đơn không phải là người đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang có tranh chấp.
Từ tình huống trên phát sinh vấn đề pháp lý về việc liệu Tòa án có thẩm quyền tiếp tục giải quyết vụ án hay phải đình chỉ giải quyết vì sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

2.1. Giải pháp pháp lý
Theo Án lệ số 71/2024/AL, trong trường hợp tranh chấp quyền sử dụng đất đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nguyên đơn tiếp tục khởi kiện vụ án dân sự về cùng tranh chấp đó và yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại, đồng thời nguyên đơn không đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có tranh chấp, thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án với lý do sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Như vậy, Án lệ số 71/2024/AL khẳng định rằng việc một đương sự tiếp tục khởi kiện tại Tòa án không làm phát sinh thẩm quyền giải quyết của Tòa án nếu tranh chấp đã được giải quyết dứt điểm bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật đất đai. Trong trường hợp này, Tòa án phải xem xét bản chất của vụ việc và hiệu lực của quyết định hành chính đã ban hành để quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, bảo đảm nguyên tắc ổn định của các quyết định đã có hiệu lực pháp luật và tránh việc giải quyết trùng lặp cùng một tranh chấp.
2.2. Nội dung vụ án
Theo Quyết định giám đốc thẩm số 14/2022/DS-GĐT ngày 28/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, nguyên đơn là bà Đặng Thị Thu H khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị C trả lại diện tích đất đang tranh chấp và yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân liên quan đến thửa đất này. Bà H cho rằng diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do cha mẹ chồng bà nhận chuyển nhượng trước năm 1975, sau đó chồng bà là ông Nguyễn Tấn T tiếp tục kê khai, đăng ký sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1992. Theo bà H, năm 1987 gia đình chỉ cho bà C mượn một phần đất để canh tác, nhưng sau đó bà C lấn chiếm thêm diện tích đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng quy định. Vì vậy, bà H yêu cầu Tòa án buộc bà C trả lại đất.
Ở chiều ngược lại, bà Nguyễn Thị C cho rằng từ năm 1975 gia đình bà đã trực tiếp quản lý, sử dụng diện tích đất này để sản xuất nông nghiệp. Đến ngày 08/12/1987, ông Nguyễn Tấn T đã lập giấy xác nhận cho bà diện tích đất đang sử dụng. Sau đó, khi phát sinh tranh chấp, vụ việc đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N giải quyết bằng Quyết định số 1627/QĐ.CT.UBH ngày 21/11/2000. Không đồng ý với quyết định này, ông T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, nhưng Quyết định số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001 đã bác đơn khiếu nại và giữ nguyên quyết định của Chủ tịch UBND huyện. Vì vậy, bà C cho rằng tranh chấp đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết dứt điểm nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà H.
Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xác định vụ việc thuộc trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do đó đã ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày 31/10/2018. Tuy nhiên, sau khi bà H kháng cáo, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy quyết định đình chỉ và giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án. Không đồng ý với quyết định này, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2.3. Nhận định của Tòa án

Khi xem xét vụ án theo thủ tục giám đốc thẩm, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nhận định rằng tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Tấn T và bà Nguyễn Thị C đã phát sinh từ năm 1995, thời điểm thửa đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định của khoản 2 Điều 38 Luật Đất đai năm 1993, thẩm quyền giải quyết tranh chấp thuộc về Ủy ban nhân dân huyện N.
Hội đồng Thẩm phán xác định Quyết định số 1627/QĐ.CT.UBH ngày 21/11/2000 của Chủ tịch UBND huyện N đã giải quyết tranh chấp giữa các bên. Sau đó, ông Nguyễn Tấn T tiếp tục khiếu nại và Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành Quyết định số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001, công nhận quyết định của Chủ tịch UBND huyện là đúng pháp luật và bác toàn bộ nội dung khiếu nại. Quyết định này đã có hiệu lực thi hành, đồng nghĩa với việc tranh chấp quyền sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo đúng trình tự pháp luật.
Bên cạnh đó, sau khi các quyết định nêu trên có hiệu lực, bà Nguyễn Thị C đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau đó được cấp đổi Giấy chứng nhận theo quy định. Do đó, việc bà H tiếp tục khởi kiện yêu cầu giải quyết lại cùng tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại không làm phát sinh thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với vụ việc này.
Trên cơ sở đó, Hội đồng Thẩm phán kết luận Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ giải quyết vụ án theo điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là có căn cứ và đúng pháp luật. Việc Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy quyết định đình chỉ để tiếp tục giải quyết vụ án là không có cơ sở. Vì vậy, Hội đồng Thẩm phán chấp nhận kháng nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, hủy quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm và giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm.
3. Nội dung Án lệ
[3] Ngày 21/11/2000, Ủy ban nhân dân huyện N có Quyết định giải quyết khiếu nại số 1627/QĐ.CT.UBH, bác đơn khiếu nại của ông T về việc đòi lại diện tích đất 2.152,15m² mà ông T đã viết giấy cho bà C ngày 08/12/1987. Không đồng ý với Quyết định này, ông T tiếp tục khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ. Ngày 19/12/2001, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có Quyết định giải quyết khiếu nại số 4835/QĐ.CT.UBT, với nội dung: Công nhận Quyết định số 1627/QĐ.CT.UBH ngày 21/11/2000 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N về việc giải quyết khiếu nại của ông T và bà C là đúng với quy định của pháp luật; bác đơn khiếu nại của ông T.
[4] Như vậy, diện tích đất bà H tranh chấp với bà C đã được giải quyết tại Quyết định số 4835/QĐ.CT.UBT ngày 19/12/2001 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ có hiệu lực thi hành.
…
[6] Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 là đúng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự số 55/2018/QĐST-DS ngày 31/10/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật là không có cơ sở.
4. Bình luận và giá trị áp dụng của Án lệ số 71/2024/AL

Án lệ số 71/2024/AL có ý nghĩa quan trọng trong việc làm rõ ranh giới giữa thẩm quyền giải quyết của cơ quan hành chính và Tòa án đối với tranh chấp quyền sử dụng đất. Thông qua án lệ này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao khẳng định rằng khi tranh chấp đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo đúng quy định của pháp luật đất đai thì Tòa án không có thẩm quyền giải quyết lại cùng nội dung tranh chấp dưới hình thức một vụ án dân sự.
Điểm đáng chú ý của án lệ là Hội đồng Thẩm phán không chỉ xem xét yêu cầu khởi kiện về tranh chấp quyền sử dụng đất mà còn đánh giá toàn diện bối cảnh pháp lý của vụ việc, bao gồm quá trình giải quyết tranh chấp trước đó tại cơ quan hành chính. Mặc dù nguyên đơn bổ sung yêu cầu hủy quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân, nhưng bản chất của vụ việc vẫn là yêu cầu giải quyết lại tranh chấp quyền sử dụng đất đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết dứt điểm. Do đó, việc tiếp tục thụ lý vụ án sẽ làm phát sinh tình trạng giải quyết lặp lại cùng một quan hệ pháp luật, không phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Theo quan điểm của Y&P, giá trị cốt lõi của Án lệ số 71/2024/AL nằm ở việc khẳng định nguyên tắc tôn trọng hiệu lực của quyết định giải quyết tranh chấp đất đai đã có hiệu lực pháp luật và xác định đúng thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Án lệ góp phần hạn chế tình trạng đương sự tiếp tục khởi kiện tại Tòa án nhằm xem xét lại những vấn đề đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo đúng trình tự pháp luật, từ đó bảo đảm tính ổn định của các quyết định hành chính và hiệu quả của cơ chế giải quyết tranh chấp.
Bên cạnh đó, án lệ cũng là cơ sở quan trọng để các Tòa án xem xét điều kiện thụ lý vụ án ngay từ giai đoạn đầu. Trước khi thụ lý hoặc tiếp tục giải quyết vụ án, Tòa án cần kiểm tra liệu tranh chấp có thuộc trường hợp đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hay không. Nếu có đủ căn cứ xác định vụ việc thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án phải từ chối thụ lý hoặc đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định, tránh kéo dài thời gian tố tụng và phát sinh các bản án, quyết định mâu thuẫn.
Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng Án lệ số 71/2024/AL không đồng nghĩa với việc mọi tranh chấp quyền sử dụng đất từng được cơ quan hành chính xem xét đều không thuộc thẩm quyền của Tòa án. Việc áp dụng án lệ chỉ đặt ra đối với các vụ việc có tình tiết pháp lý tương tự, trong đó tranh chấp đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, quyết định đó vẫn còn giá trị pháp lý và người khởi kiện tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết lại chính nội dung tranh chấp đã được giải quyết trước đó.
5. Một số câu hỏi thường gặp
Tranh chấp quyền sử dụng đất đã được UBND giải quyết thì có thể tiếp tục khởi kiện tại Tòa án không?
Không phải mọi trường hợp đều được khởi kiện. Theo tinh thần của Án lệ số 71/2024/AL, nếu tranh chấp đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và thuộc trường hợp pháp luật quy định thì Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án.
Khi nào Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án theo Án lệ số 71/2024/AL?
Tòa án phải đình chỉ giải quyết vụ án khi xác định cùng một tranh chấp đã được giải quyết bằng quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người khởi kiện tiếp tục yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ việc và vụ án thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm g khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xem thêm: Thẩm quyền và trách nhiệm của UBND xã trong việc quản lý đất đai